Bài 15: Quản lý rủi ro dự án

PHẦN 6 · CHỌN ĐÚNG DỰ ÁN, VẠCH RÕ KẾ HOẠCH

Bài 15. Quản lý rủi ro dự án

Thời lượng đọc ≈ 24 phút   ·   Chương 15 sách “Quản lý dự án: Hiểu đúng & Làm thật”

Hễ biết phòng bị trước sự nguy sẽ đến bất ngờ, thì khiến cho mình luôn được yên ổn, bình an;

Nếu có lòng khinh thường, thì khiến cho dễ bị nghiêng đổ.

— Kinh Dịch

MỤC TIÊU BÀI HỌC

Sau bài này, bạn có thể:

•     Nhận diện rủi ro đến từ việc không hiểu đúng, không làm thật và từ định kiến cá nhân.

•     Mô tả cấu trúc quản lý rủi ro xuyên suốt các giai đoạn dự án.

•     Có giải pháp cho rủi ro mất tài năng và rủi ro hành vi tiêu cực (tham ô, lãng phí, quan liêu).

•     Phân biệt chi phí dự phòng rủi ro, khoản mục dự toán dự phòng, vốn dự trữ quản lý; xác định dự phòng theo xác suất.

•     Chọn hình thức giá hợp đồng và loại hợp đồng (EPC, EPCM) theo kết quả phân tích rủi ro.

 

Binh thư yếu lược dạy: việc chưa nghĩ đến thì lòng hẳn sợ, lòng sợ thì không tính toán được, đó là điềm thua. Phải dự trù cả những gì khó khăn, hiểm nguy, rồi lòng mới yên. Làm dự án cũng vậy: phòng bị từ khi lên ý tưởng đến khi đưa vào khai thác.

Rủi ro đến từ việc không hiểu đúng

Những nguồn rủi ro gây tác hại lớn nhất thường không nằm trong danh mục rủi ro kỹ thuật:

  • Không hiểu đúng về dự án, về bản chất QLDA và các năng lực cần thiết.
  • Không làm thật: làm hời hợt, nóng vội, quan liêu, vô cảm.
  • Để định kiến và cái tôi vị kỷ chi phối quyết định.
  • Không thấy sự biến chuyển của dự án và mối quan hệ tương thuộc với các bên liên quan.

 

Quản lý rủi ro là quá trình thường xuyên, toàn diện, xuyên suốt vòng đời. Ở mỗi giai đoạn: nhận diện các bên liên quan và mức tham gia, dự báo rủi ro họ đối diện, phân bổ hợp lý trách nhiệm quản lý rủi ro, và duy trì, cập nhật hồ sơ rủi ro từ đầu đến cuối.

Hình 15.1. Cấu trúc tổng thể quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng.

BA LỖ HỔNG THƯỜNG GẶP

1.    Tài năng và hành vi: rủi ro mất người giỏi và hành vi tiêu cực không được nhận diện, phân tích.

2.    Chi phí: chỉ ấn định dự phòng 10% chung cho mọi dự án và coi đó là quản lý rủi ro.

3.    Hợp đồng: trao hợp đồng cho nhà thầu không đủ năng lực quản lý rủi ro; hoặc ứng xử với hợp đồng trọn gói trái thông lệ (chủ đầu tư “đòi lại” dự phòng không dùng hết, hoặc nhà thầu đòi bù trượt giá dù giá trọn gói đã gồm dự phòng).

 

Để chủ động, tổ chức cần làm rõ chiến lược và văn hóa rủi ro, kiến tạo bộ phận quản lý rủi ro với nhân sự phù hợp, và nhớ rằng quản lý rủi ro không chỉ là giảm thiểu rủi ro mà còn là tạo giá trị từ nó.

Rủi ro tài năng và “giặc nội xâm”

Rủi ro mất tài năng

Người giỏi có thể rời dự án đúng lúc dự án cần họ nhất. Giải pháp giữ chân: lộ trình phát triển nghề nghiệp, thu nhập tương xứng, cơ hội học hỏi và tham gia hệ sinh thái của tổ chức (văn hóa, đổi mới, R&D, quản lý tri thức, huấn luyện, cố vấn). Hoặc chấp nhận rủi ro bằng chính sách tuyển dụng linh hoạt và đào tạo lực lượng kế cận.

Rủi ro hành vi tiêu cực

Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”. Tham ô là ăn cắp, ăn bớt của công. Lãng phí sức lao động, thì giờ, tiền của còn nguy hại hơn. Và gốc rễ là bệnh quan liêu: “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu”, chỉ xem báo cáo trên giấy mà không kiểm tra đến nơi đến chốn.

Phát triển tài năng

Bồi dưỡng kiến thức, năng lực thực thi và phẩm chất đạo đức cho lực lượng nòng cốt.

Chuẩn mực đạo đức

Ban hành và mọi người ký cam kết; nhân sự chủ chốt là tấm gương.

Pháp luật

Bồi dưỡng kiến thức pháp luật, sống và làm dự án theo pháp luật.

Tự phê bình, phê bình

Lồng ghép vào các cuộc họp định kỳ của dự án.

Cơ chế lên tiếng

Kiểm soát, giám sát, và kênh để mọi người báo cáo hành vi lệch chuẩn.

 

Xác định vốn dự phòng rủi ro

Thông lệ quốc tế phân biệt ba loại dự phòng:

Loại Mục đích Ai kiểm soát
Chi phí dự phòng rủi ro (Contingency) Giảm thiểu, loại bỏ tác động tiêu cực của biến cố không lường trước hoặc chưa được dự báo đúng mức. Chỉ dành cho quản lý rủi ro. Dự án
Khoản mục dự toán dự phòng (Budget Allowances) Các sự kiện, thành phần lường trước được và nằm trong phạm vi nhưng chưa đủ thông tin để tính chính xác: giấy phép, đánh giá thầu, lễ khởi công, thu xếp vốn, nghiệm thu, khánh thành… Đã nằm trong dự toán cơ sở. Dự án
Vốn dự trữ quản lý (Management Reserves) Cho thay đổi lớn về phạm vi hoặc công nghệ; nhà quản lý cấp cao tùy ý sử dụng. Cấp cao, ngoài tầm giám đốc dự án

Hình 15.2. Công thức tổng quan xác định vốn đầu tư.

Vì sao ấn định 10% là chưa hợp lý?

Quy định hiện hành của Việt Nam thường tính dự phòng khoảng 10% (khối lượng phát sinh và trượt giá); một số nước lấy 5–15%. Theo lý thuyết hiện đại, ấn định tỷ lệ cố định:

  • Không cho biết 10% có tương xứng với rủi ro của dự án cụ thể hay không, nên có dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, có dự án lại dư quá nhiều.
  • Không gắn với loại rủi ro cụ thể nào, nên khó biết khi nào được dùng.
  • Giữ vốn dự phòng suốt dự án không phải cách dùng vốn hiệu quả khi vốn khan hiếm.

 

Dự phòng rủi ro phải được lập từ phân tích rủi ro của chính dự án đó, là hàm số của xác suất mong muốn mà chi phí cuối cùng không vượt ngân sách. Xác suất càng cao, dự phòng càng lớn.

Các phương pháp định lượng

Giá trị kỳ vọng Dự phòng dựa trên giá trị kỳ vọng của các biến cố rủi ro.
Phân phối chuẩn Mỗi hạng mục chi phí là một phân phối chuẩn; gộp giá trị kỳ vọng và phương sai.
Mô phỏng Monte Carlo Cho ra phân phối xác suất của tổng dự toán.
Ước lượng khoảng biến thiên Chuyên gia ước lượng khoảng và phân phối cho từng khoản mục, rồi chạy mô phỏng.
Hồi quy tuyến tính đa biến Dự đoán chi phí cuối cùng từ các biến độc lập như vị trí, quy mô.

Hình 15.3. Các bước xác định giá trị dự toán và dự phòng rủi ro: (i) dự toán cơ sở; (ii) xác định yếu tố rủi ro; (iii) ước lượng khoảng biến thiên, ma trận chi phí – ảnh hưởng; (iv) chạy mô hình; (v) chọn xác suất mong muốn và xác định dự phòng.

Minh họa theo ví dụ trong sách. Dự toán cơ sở 140 triệu USD. Nếu chủ đầu tư chọn xác suất P-80, tổng dự toán là 150 triệu USD và dự phòng rủi ro là 10 triệu USD. Thường chọn P-70 hoặc P-80; một số tổ chức chọn P-50 cho mọi dự án và cân đối dự phòng ở cấp danh mục.

Kết quả mô phỏng còn cho đồ thị độ nhạy (Tornado) để phân bổ dự phòng cho từng yếu tố hoặc giai đoạn. Ví dụ trong sách: 29,6% cho thiết kế, 28,8% cho vật liệu, 18% cho nhân công, 13,6% cho giải pháp kỹ thuật, 9,4% cho mua sắm thiết bị. Nhờ vậy lãnh đạo biết mức dự phòng hiện tại còn hợp lý không, để tái phân bổ hoặc hoàn trả phần không dùng, rất hữu ích khi quản lý danh mục đầu tư.

Quan trọng hơn phương pháp là quy tụ được nhóm đánh giá rủi ro có kiến thức, kinh nghiệm, gồm đại diện các bên liên quan chính.

Rủi ro và lựa chọn hình thức hợp đồng

Hình thức giá hợp đồng thể hiện cách các bên phân bổ rủi ro:

Hình thức giá Ai chịu rủi ro tài chính Hệ quả về giá chào
Trọn gói Nhà thầu chịu toàn bộ; “lời ăn, lỗ chịu” Dự phòng rủi ro trong giá chào cao nhất
Đơn giá cố định Nhà thầu chịu biến động đơn giá; khối lượng theo thực tế Một phần dự phòng chuyển sang nhà thầu theo đàm phán
Giá điều chỉnh Chủ đầu tư chịu toàn bộ Chủ đầu tư quản lý toàn bộ dự phòng
Kết hợp Thỏa thuận theo từng loại rủi ro Chi phí tương ứng với rủi ro mỗi bên nhận

Hình 15.6. Mô hình hợp đồng EPC.

Hình 15.7. Mô hình hợp đồng EPCM.

Đặc điểm EPC EPCM
Cơ chế Một hợp đồng với một nhà thầu hoặc liên danh Nhiều hợp đồng; nhà thầu EPCM chuẩn bị, chủ đầu tư ký và chịu trách nhiệm tổng thể
Rủi ro chi phí Nhà thầu EPC chịu Chủ đầu tư chịu
Rủi ro thực hiện Một đầu mối chịu mọi rủi ro tiến độ, chi phí, chất lượng và bảo hành Phân bổ cho từng nhà thầu theo hợp đồng
Tiến độ Thi công có thể song song với thiết kế; hợp dự án gấp Mỗi hợp đồng mất khoảng 6–8 tuần để chọn, đánh giá, trao; thiết kế phải xong trước thi công
Đầu mối Được ưa chuộng khi chủ đầu tư muốn một đầu mối Nhiều nhà thầu, thời hạn và bảo hành khác nhau

 

Nguyên tắc chọn: rủi ro thấp hoặc chủ đầu tư đủ năng lực kiểm soát thì có thể nhận rủi ro (giá điều chỉnh, EPCM); rủi ro cao hoặc không đủ năng lực thì chuyển giao (giá trọn gói, EPC). Việc phân bổ rủi ro phải thể hiện hợp lý trong điều khoản, điều kiện hợp đồng và yêu cầu kỹ thuật, làm căn cứ thương thảo giá.

Áp dụng vào dự án của bạn

KIỂM TRA CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO

☐  Hồ sơ rủi ro được lập từ đầu và cập nhật qua từng giai đoạn.

☐  Danh mục rủi ro có cả rủi ro con người: mất nhân sự chủ chốt, hành vi tiêu cực.

☐  Dự phòng rủi ro được tính theo xác suất mong muốn, không chỉ ấn định tỷ lệ.

☐  Dự phòng được phân bổ theo yếu tố hoặc giai đoạn và được rà soát định kỳ.

☐  Hình thức hợp đồng được chọn dựa trên phân tích rủi ro và năng lực chịu rủi ro của các bên.

 

Câu hỏi suy ngẫm

DÀNH CHO CÁ NHÂN HOẶC THẢO LUẬN NHÓM

1.    Tổng mức đầu tư dự án của bạn có dự phòng bao nhiêu phần trăm? Con số đó được tính từ phân tích rủi ro hay ấn định?

2.    Nếu giám đốc dự án hoặc kỹ sư trưởng rời đi ngày mai, dự án của bạn chịu ảnh hưởng thế nào? Đã có người kế cận chưa?

3.    Hợp đồng EPC giá trọn gói gần nhất bạn tham gia có bị “đòi lại” dự phòng hay “bù giá” không? Điều đó nói gì về cách hiểu phân bổ rủi ro?

 

Kiểm tra nhanh

Câu 1. Khoản nào nằm ngoài tầm kiểm soát của giám đốc dự án?

  1. Chi phí dự phòng rủi ro
  2. Khoản mục dự toán dự phòng
  3. Vốn dự trữ quản lý cấp cao
  4. Dự toán cơ sở

Câu 2. Dự toán cơ sở 140 triệu USD; mô phỏng cho giá trị P-80 là 150 triệu USD. Chi phí dự phòng rủi ro là:

  1. 10% của 140
  2. 10 triệu USD
  3. 14 triệu USD
  4. 150 triệu USD

Câu 3. Chủ đầu tư có năng lực kiểm soát rủi ro tốt và muốn tận dụng lợi thế đó. Hình thức phù hợp hơn là:

  1. EPC giá trọn gói
  2. EPCM hoặc hợp đồng giá điều chỉnh
  3. Không ký hợp đồng
  4. Luôn chọn giá thấp nhất

Câu 4. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, gốc rễ của tham ô, lãng phí là:

  1. Lương thấp
  2. Bệnh quan liêu
  3. Thiếu công nghệ
  4. Nhà thầu nước ngoài

Đáp án và giải thích

Câu 1: C. Management Reserves do nhà quản lý cấp cao kiểm soát, dùng cho thay đổi lớn về phạm vi hoặc công nghệ.

Câu 2: B. Dự phòng = giá trị tại xác suất mong muốn − dự toán cơ sở = 150 − 140 = 10 triệu USD.

Câu 3: B. Khi rủi ro thấp hoặc đủ năng lực kiểm soát, chủ đầu tư có thể nhận rủi ro qua EPCM hoặc giá điều chỉnh.

Câu 4: B. “Sở dĩ có nạn tham ô, lãng phí là vì có bệnh quan liêu.”

Ghi nhớ

NHỮNG ĐIỀU CỐT LÕI CỦA BÀI

•     Rủi ro lớn đến từ việc không hiểu đúng, không làm thật và từ định kiến, cái tôi; quản lý rủi ro là quá trình thường xuyên, toàn diện, xuyên suốt vòng đời.

•     Ba lỗ hổng phổ biến: rủi ro về tài năng và hành vi; rủi ro chi phí chưa được định lượng (ấn định 10%); chọn hình thức hợp đồng không gắn với năng lực chịu rủi ro.

•     Quản lý rủi ro không chỉ là giảm thiểu, mà còn là tạo giá trị từ rủi ro.

•     Ngân sách = dự toán cơ sở + dự phòng rủi ro; vốn khả dụng = ngân sách + vốn dự trữ quản lý cấp cao.

•     Dự phòng rủi ro nên tính theo xác suất mong muốn (thường P-70 hoặc P-80) bằng mô phỏng Monte Carlo, và phân bổ theo đồ thị độ nhạy.

•     Giá trọn gói chuyển rủi ro tài chính sang nhà thầu; giá điều chỉnh để chủ đầu tư chịu. EPC một đầu mối, rủi ro do nhà thầu; EPCM nhiều hợp đồng, rủi ro chi phí do chủ đầu tư.